giám định lại thương tích
Việc xác định thương tích, thương tật của bị hại chưa thực hiện nên HĐXX quyết định hoãn phiên tòa để giám định thương tích của bị hại trong các ngày 7-10 và 12/12/2021 trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung.
1. Camera giám sát gia đình Xiaomi 360 độ 1080P Mi Home. Sản phẩm đầu tiên nằm trong top 5 camera giám sát tốt nhất 2021 mà Phongreview.com muốn giới thiệu đến bạn đó là Xiaomi 3600 1080P Mi Home. Đây là dòng camera IP hồng ngoại được thiết kế dạng tròn hiện đại, thuận tiện cho
Đối với tội cố ý gây thương tích không dừng lại ở khoản 1 mà nằm ở các khoản còn lại thì không cần có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Tuy nhiên, tại Điều 206 BLTTHS có quy định về các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định
Tiền thân là Trung tâm giám định Vàng bạc đá quý DOJI, DOJILAB được thành lập từ năm 2009, là một chi nhánh trực thuộc Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực: giám định vàng bạc đá quý, đào tạo Ngọc học, nghiên cứu khoa học công nghệ.
Bởi D. từ chối giám định nên không có căn cứ khởi tố T. về tội "cố ý gây thương tích", cơ quan điều tra đã ra quyết định trả tự do cho Võ Văn T.. Cần áp giải giám định Trong cả hai trường hợp trên, cơ quan thi hành pháp luật đều không có căn cứ để xác định tỉ lệ thương tật của bị hại làm cơ sở khởi tố theo quy định tại điều 104 Bộ luật hình sự.
Welche Dating Seiten Sind Wirklich Kostenlos. Có thể yêu cầu cơ quan giám định lại kết quả thương tích nếu cảm thấy nghi ngờ không? Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vụ án gây thương tích phụ thuộc vào tỷ lệ thương tật của bên bị hại. Vậy khi nào có quyền yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tật? Bạn đọc hỏi Anh tôi đánh người ta bị thương, họ đã đi giám định tỷ lệ thương tật là 28% và bị khởi tố. Nhưng anh tôi không tin kết luận giám định nên muốn yêu cầu giám định lại có được không? Nguyễn Tuấn Phong Long Biên, Hà Nội » tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích Luật sư Đặng Thành Chung trả lời Theo quy định tại Điều 214, Bộ luật Tố tụng hình sự thì quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận giám định như sau “2. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan. 3. Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định; đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trường hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản”. Căn cứ vào quy định trên, anh bạn có quyền trình bày ý kiến không đồng ý về kết luận giám định và đề nghị giám định lại. Tuy nhiên, có được giám định lại hay không lại phải phụ thuộc vào điều kiện giám định lại được quy định như sau » Mẫu đơn đề nghị giám định thương tật I. Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố quy định tại Điều 211, Bộ luật Tố tụng hình sự như sau “1. Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện. 2. Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do. 3. Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp”. II. Trong giai đoạn xét xử quy định tại Điều 316, Bộ luật Tố tụng hình sự như sau “1. Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa yêu cầu người giám định, người định giá tài sản trình bày kết luận của mình về vấn đề được giám định, định giá tài sản. Khi trình bày, người giám định, người định giá tài sản có quyền giải thích bổ sung về kết luận giám định, định giá tài sản, căn cứ để đưa ra kết luận giám định, định giá tài sản. 2. Kiểm sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận giám định, định giá tài sản, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định, định giá tài sản hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án. 3. Trường hợp người giám định, người định giá tài sản không có mặt tại phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định, định giá tài sản. 4. Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại, định giá lại tài sản”. Luật sư Đặng Thành Chung trả lời trên » Tư vấn về tội cố ý gây thương tích » Luật sư bào chữa vụ án hình sự Có thể giám định lại kết quả thương tích
Tôi và hàng xóm sau khi nhậu say, vì lời qua tiếng lại hai bên xảy ra xô xát, trong lúc đó hàng xóm dùng chai rượu thủy tinh đánh vào đầu tôi, gây thương tích nặng, tôi được người dân đưa đi cấp cứu và giám định thương tích bên trên 11%, nhưng tôi chưa có yêu cầu khởi tố thì có ra tòa được hay không? Gây thương tích cho người khác trên 11% bị xử phạt như thế nào theo pháp luật hình sự? Gây thương tích cho người khác trên 11% bị xử phạt như thế nào theo pháp luật hình sự? Giám định thương tích bên trên 11%, nhưng chưa có yêu cầu khởi tố thì có ra tòa được hay không? Quyết định khởi tố vụ án hình sự được quy định như thế nào? Gây thương tích cho người khác trên 11% bị xử phạt như thế nào theo pháp luật hình sự?Theo khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm+ Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;+ Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;+ Có tổ chức;+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;+ Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;+ Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;+ Có tính chất côn đồ;+ Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;+ Phạm tội 02 lần trở lên;+ Tái phạm nguy hiểm;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm+ Làm chết người;+ Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân+ Làm chết 02 người trở lên;+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 định thương tích bên trên 11%Giám định thương tích bên trên 11%, nhưng chưa có yêu cầu khởi tố thì có ra tòa được hay không?Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự 2021 quy định như sau“Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tùy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”Theo đó, đối với tội cố ý gây thương tích, chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Như vậy, nếu đã giám định trên 11% nhưng chưa có yêu cầu khởi tố thì chưa thể đưa vụ án ra xét định khởi tố vụ án hình sự được quy định như thế nào?Theo Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định như sau“Điều 154. Quyết định khởi tố vụ án hình sự1. Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tòa án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp.”Theo đó, Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.
Tại thời điểm tiếp nhận, xử lý tin báo tội phạm, sau khoảng 4 tháng cơ quan điều tra đã cho giám định tỷ lệ thương tích đối với bà A, kết quả là 13% thông tin từ cán bộ điều tra, và đã khởi tố vụ án, khởi tối bị can đối với bà B, đến nay đang trong giai đoạn điều tra, điều tra được hơn 2 tháng rồi, Vậy cho hỏi tại thời điểm này bà B có thể yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích đối với bà A không ạ. đến nay bà B chưa có văn bản nào thông báo về tỷ lệ thương tích bà A cả Điều 211 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định 1. Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện. 2. Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do. 3. Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp. Đồng thời tại Điều 214 Bộ luật này cũng có quy định 1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị trưng cầu giám định của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. 2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan. 3. Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định; đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trường hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản. 4. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì phải thông báo cho người đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do. Như vậy, theo quy định này thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan. Do đó, không hiểu lý do gì mà bà B chưa nhận được quyết định. Bà B cũng có quyền đề nghị giám định lại, tuy nhiên không phải cứ yêu cầu là được chấp nhận vì việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác, cơ quan có thẩm quyền sẽ có văn bản thông báo cho người đề nghị và nếu rõ lý do về việc không chấp nhận. Trân trọng!
Giám định thương tích là một trong những thủ tục cần thiết cho công tác điều tra của cơ quan có thẩm quyền. Căn cứ vào kết quả giám định có thể xác định được tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và quyết định khung hình phạt cho hành vi phạm tội đó. Nhiều độc giả thắc mắc không biết người bị hại Có được từ chối giám định thương tích hay không? Mẫu đơn không yêu cầu giám định thương tích năm là mẫu nào? Bị hại từ chối giám định thương tích trong trường hợp bắt buộc giám định bị xử lý thế nào? Sau đây, Luật sư X sẽ làm rõ vấn đền này thông qua bài viết sau đây cùng những quy định liên quan. Hi vọng bài viết sẽ đem lại nhiều thông tin hữu ích cho quý bạn đọc. Căn cứ pháp lý Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Hiểu thế nào là giám định thương tích? Thương tích là những dị tật đã được cơ quan có thẩm quyền xác định sau khi vết thương đã được điều trị. Phần trăm thương tật có vai trò rất quan trọng trong một vụ án hình sự. Tỷ lệ thương tật là căn cứ trực tiếp để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tỉ lệ này được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đưa ra kết luận giám định về bằng kiến thức chuyên môn, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật. Đây cũng là cơ sở để yêu cầu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Lưu ý Tránh việc nhầm lẫn giữa thương tật và thương tích khi thương tích là tình trạng vết thương trên cơ thể do bị tổn thương vì tai nạn, bom đạn hay do các hành vi phạm tội gây nên. Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định tại Điều 205 và Điều 207 thì thời điểm có thể trưng cầu giám định xác định tỷ lệ thương tật bao gồm Khi đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết việc phải tiến hành trưng cầu giám định. Trong đó, Cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Có được từ chối giám định thương tích hay không? Căn cứ theo khoản 4 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về bị hại, theo đó bị hại có nghĩa vụ như – Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải; – Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về áp giải, dẫn giải, theo đó dẫn giải có thể áp dụng đối với một trong các trường hợp sau – Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan; – Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan; – Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan. Như vậy, theo quy định nêu trên, bị hại có nghĩa vụ phải chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nếu họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì sẽ bị dẫn giải. Đơn không yêu cầu giám định thương tích năm 2022 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc ……, ngày …. tháng…. năm 20… ĐƠN XIN TỪ CHỐI GIÁM ĐỊNH THƯƠNG TẬTV/v …………………….. Kính gửi Công an……………………..…………….., Tỉnh ……………….Cơ quan cảnh sát điều tra Công an …….………………..…Viện kiểm sát nhân dân …………………… Chúng tôi gồm 1. Ông ………….., Sinh năm …………….. CMND số ………….. cấp ngày …………………. do Công an ……………….. Địa chỉ ……………………………. 2. Bà …………………………, Sinh năm ……………………. CMND số …………………….. cấp ngày ……………….., do Công an ………… cấp. Địa chỉ ………………………………… Là ……………….của người bị ………………………………. Nay chúng tôi làm đơn này xin được từ chối giám định thương tật của ………….. là anh …………………… trong vụ …………………. như sau Vào ngày ……………………………………………………. Hậu quả …..………………………………… Do vụ tai nạn xảy ra ngoài ý muốn nên sau khi xảy ra tai nạn hai bên đã gặp gỡ thương lượng và giải quyết để bồi thường. Theo đó, ………………………………. bồi thường cho gia đình chúng tôi thoả đáng. Nay Chúng tôi làm đơn này xin được từ chối giám định thương tật của ……………… là ……………………………………… trong vụ tai nạn nêu trên và cam kết sẽ không có bất cứ đòi hỏi cũng như khiếu kiện gì về sau đối với vụ tai nạn nêu trên. Chúng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Pháp luật về Đơn xin từ chối giám định thương tật này. Kính mong Quý Cơ Quan tạo điều kiện giúp đỡ. Xin chân thành cảm ơn. Người làm đơn Tải về mẫu đơn không yêu cầu giám định thương tích Trường hợp nào bắt buộc phải trưng cầu giám định thương tích? Điều 205 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trưng cầu giám định như sau“Điều 205. Trưng cầu giám định1. Khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 206 của Bộ luật này hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định.…3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra”.Theo quy định trên thì khi thuộc một trong các trường hợp sau đây hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án; Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó; Nguyên nhân chết người; Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ; Mức độ ô nhiễm môi trường. Như vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì tính chất thương tích và mức độ tổn hại cho sức khỏe của bị hại là trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định. Do vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định đối với anh B là đúng theo quy định của pháp lưu ý là, việc các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định là một trong các hoạt động điều tra được quy định trong bộ luật hình sự. Hoạt động điều tra này không phụ thuộc vào ý chí của bị hại và bị hại phải có nghĩa vụ thực hiện quyết định trưng cầu giám định trên. Bị hại từ chối giám định thương tích bị xử lý thế nào? Đơn không yêu cầu giám định thương tích Điều 127 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về dẫn giải như sau“Điều 127. Áp giải, dẫn giải1. Áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc Dẫn giải có thể áp dụng đối vớia Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;b Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;6. Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế”Theo quy định trên, khi bị hại từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì các Cơ quan tiến hành tố tụng có thể ra quyết định dẫn giải để buộc người đó phải thực hiện quyết định trưng cầu giám định. Mời bạn xem thêm Hoãn thi hành án tử hình được thực hiện thế nào? Quy định chung về thủ tục công nhận và cho thi hành án tại Việt Nam Thi hành án phạt quản chế diễn ra theo trình tự nào chế theo pháp luật Thông tin liên hệ Trên đây là những vấn đề liên quan đến “Đơn không yêu cầu giám định thương tích”. Luật sư X tự hào sẽ là đơn vị hàng đầu hỗ trợ mọi vấn đề cho khách hàng liên quan đến tư vấn pháp lý, thủ tục giấy tờ liên quan đến thủ tục cấp lại sổ đỏ cho người đã chết. Nếu quý khách hàng còn phân vân, hãy đặt câu hỏi cho Luật sư X thông qua số hotline chúng tôi sẽ tiếp nhận thông tin và phản hồi nhanh chóng. Facebook Tiktok luatsux Youtube Câu hỏi thường gặp Thời điểm nào có thể trưng cầu giám định xác định tỷ lệ thương tật?Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định tại Điều 205 và Điều 207 thì thời điểm có thể trưng cầu giám định xác định tỷ lệ thương tật bao gồmKhi đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến trách nhiệm hình sự của người bị buộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết việc phải tiến hành trưng cầu giám đó, Cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Thủ tục giám định thương tích thực hiện như thế nào?Bước 1 Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám địnhBước 2 Nhận và thực hiện giám định thương tích– Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người có yêu cầu giám định gửi quyết định, yêu cầu của mình đến tổ chức thực hiện giám định. gửi hồ sơ trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.– Cơ quan, tổ chức được yêu cầu giám định có trách nhiệm giám định thương tật trong thời gian không quá 09 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu hoặc yêu cầu giám định. Nếu hết thời hạn trên mà không thể xác định được việc giám định thương tật thì phải kịp thời thông báo cho cơ quan ra quyết định trưng cầu hoặc người yêu cầu giám định bằng văn bản kèm theo lý do.– Sau khi tiến hành giám định thương tật, cơ quan, tổ chức giám định phải có kết luận giám định trong đó ghi rõ kết quả xác định về tình trạng thương tích, tổn thương sức 3 Thông báo kết quả giám định Việc giám định lại được quy định như thế nào?Theo Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về việc giám định lại cụ thể như sau1 Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện.2 Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.3 Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp.”
Mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật là gì? Mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật để làm gì? Mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật 2021? Hướng dẫn soạn thảo? Quy định của pháp luật về giám định lại?Trên thực tế, trong một số trường hợp thì việc giám định lại thương tật được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện. Khi có yêu cầu giám định lại thương tật thì người yêu cầu phải làm đơn đề nghị giám định lại thương tật. Bài viết dưới đây của Luật Dương Gia sẽ cung cấp cho bạn đọc mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật và hướng dẫn soạn thảo. – Giám định lại là hoạt động giám định được tiến hành theo quyết định trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự về vấn đề đã được giám định khi có kết quả giám định trước hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận giám định. – Mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật là mẫu đơn do người yêu cầu lập ra gửi đến cơ quan có thẩm quyền đề nghị giám định lại thương tật vì không tin tưởng vào kết quả của biên bản giám định thương tật cũ Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận/huyện 2. Mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật để làm gì? Mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật được dùng soạn thảo vói mục đích để đề nghị giám định lại thương tật. Mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật nêu rõ những thông tin, nội dung đề nghị. từ đó xác định được % thương tật phục vụ mục đích của người làm đơn 3. Mẫu đơn đề nghị giám định lại thương tật CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——o0o—— …., ngày …. tháng…. năm 2018 ĐƠN ĐỀ NGHỊ GIÁM ĐỊNH LẠI THƯƠNG TẬT V/v Xác định lại phần trăm thương tật đối với bị hại là ông/bà/anh/chị…. – Căn cứ Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; – Căn cứ Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Kính gửi Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện/quận ……1 Thông tin Tòa án đang thụ lý vụ án Tên tôi là……- là người đại diện của bị hại là ông/bà/anh/chị………2 Giấy Ủy quyền số ………3 Ngày …/…/……., Tòa án nhân dân quận ……….. đã thụ lý vụ án …………. theo hồ sơ …….. được chuyển lên từ Cơ quan điều tra, trong hồ sơ này có xác định tỷ lệ thương tật đối với bị hại là ông/bà/anh/chị ………. là ….% nên truy tố bị cáo …………. với tội danh ……… theo Khoản ……….Điều ……….. Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017. Nhưng phía bị hại chúng tôi không đồng ý với kết quả giám định trên và chứng cứ để có thể cho rằng tỷ lệ thương tật đối với bị hại còn cao hơn nhiều so với kết quả giám định của Cơ quan điều tra đã xác định, các tài liệu chứng minh chúng tôi gửi kèm theo đơn này. 4 Căn cứ Điều 45, Điều 73, Điều 214, Điều 297, Điều 316 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, tôi làm đơn này kính mong Hội đồng xét xử xem xét ra quyết định hoãn phiên tòa để tiến hành giám định bổ sung, giám định lại tỷ lệ thương tật của ông/bà/anh/chị ………. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giải quyết, tôi xin chân thành cảm ơn! Tài liệu kèm theo – Giấy tờ, tài liệu, chứng minh Người viết đơn ký và ghi rõ họ tên 4. Hướng dẫn soạn thảo 1 Điền thông tin Tòa án đang thụ lý vụ án 2 Điền tên người làm đơn 3 Điền giấy ủy quyền 4 Điền nội dung đơn 5. Quy định của pháp luật về giám định lại Giám định lại Quy định tại Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau – Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện. – Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do. – Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp. Giám định bổ sung, giám định lại Tại Điều 29 Luật Giám định tư pháp 2012 cũng quy định như sau – Việc giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án, vụ việc đã được kết luận giám định trước đó. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu. – Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác hoặc trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật này. – Người trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người yêu cầu giám định quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trình tụt thủ tục về giám định lại Bước 1 Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định Theo quy định tại Điều 206 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định khi thuộc các trường hợp sau – Cần xác định tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án. – Giám định để xác định chính xác về tuổi trong trường hợp cần thiết. – Nguyên nhân chết người. – Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động. – Cần xác định các chất là ma túy hoặc chất độc, chất cháy, phóng xạ,… xác định vũ khí quân dụng, tiền giả, vàng bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ. – Xác định mức độ ô nhiễm môi trường. Như vậy đối với trường hợp cá nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe là một trong những trường hợp bắt buộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải ra quyết định trưng cầu giám định. – Nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không ra quyết định trưng cầu giám định thì người bị xâm phạm thân thể, sức khỏe hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan này phải trưng cầu giám định. – Sau 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị giám định, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. – Trường hợp không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho người đề nghị giám định biết bằng văn bản và nêu rõ lí do. – Khi hết thời hạn trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tố tụng thì người đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định. Bước 2 Tiếp nhận và thực hiện giám định theo yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người có yêu cầu giám định gửi quyết định, yêu cầu của mình đến tổ chức thực hiện giám định. gửi hồ sơ trực tiếp hoặc qua đường bưu điện. – Việc giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu, yêu cầu giám định. – Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán hoặc người yêu cầu giám định có thể tham dự giám định nhưng phải báo trước cho người giám định biết. Cơ quan, tổ chức được yêu cầu giám định có trách nhiệm giám định thương tật trong thời gian không quá 09 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu hoặc yêu cầu giám định. Nếu hết thời hạn trên mà không thể xác định được việc giám định thương tật thì phải kịp thời thông báo cho cơ quan ra quyết định trưng cầu hoặc người yêu cầu giám định bằng văn bản kèm theo lý do. Sau khi tiến hành giám định thương tật, cơ quan, tổ chức giám định phải có kết luận giám định trong đó ghi rõ kết quả xác định về tình trạng thương tích, tổn thương sức khỏe. Bước 3 Thông báo kết quả giám định Theo quy định tại Khoản 2 Điều 213 Bộ luật Tố tụng Hình sự, kết luận giám định của cơ quan, tổ chức giám định phải được gửi đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã ra quyết định trưng cầu hoặc người yêu cầu giám định về tỷ lệ thương tật trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận. Chi phí giám định thương tật sẽ được cơ quan trưng cầu giám định hoặc người yêu cầu giám định về thương tật trả cho cơ quan, tổ chức đã thực hiện giám định thương tật theo quy định Giám định lại trong trường hợp đặc biệt Theo Điều 213 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định. Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực hiện, những người đã tham gia giám định trước đó không được giám định lại. Kết luận giám định lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án. Quy định về Giám định bổ sung Theo Điều 210 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau – Việc giám định bổ sung được tiến hành trong trường hợp + Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ; + Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó. – Việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện. + Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu. Điều luật quy định về giám định bổ sung. Giám định bổ sung là trường hợp giám định tiếp theo việc giám định lần đầu khi có những căn cứ luật định, cụ thể + Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ. Đây là trường hợp kết luận giám định không đáp ứng về nội dung so với yêu cầu giám định nêu trong quyết định trưng cầu giám định. + Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã cố kết luận giám định trước đó. Điều luật không yêu cầu việc giám định bổ sung phải do tổ chức, cá nhân khác thực hiện. Do đó, việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định thực hiện hoặc do tổ chức, cá nhân khác thực hiện, tùy thuộc vào cơ quan trưng cầu giám định. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu.
giám định lại thương tích